Khi làm mới sàn, tường, trần bằng cách phủ lớp mới lên lớp cũ, yếu tố quyết định độ bền ở Việt Nam thường không phải là vật liệu đắt hay rẻ mà là độ ẩm: độ ẩm của không khí theo mùa, và độ ẩm đi lên từ nền, đi ngang qua tường. Một tấm sàn gỗ công nghiệp có thể bền nhiều năm ở phòng ngủ tầng ba nhưng phồng mép sau một mùa nồm ở tầng trệt; giấy dán tường đẹp ở phòng khách khô nhưng mốc đen ở bức tường giáp nhà tắm.
Bài này là bản đồ để chọn trước khi mua: cách thử độ ẩm bằng dụng cụ đơn giản, đặc điểm khí hậu từng vùng ảnh hưởng thế nào, bảng chọn vật liệu theo vị trí, và thứ tự làm trần, tường, sàn để lớp sau không làm hỏng lớp trước. Chi tiết cách lắp từng loại có ở các bài riêng của chuyên mục.
Hai kiểu ẩm làm hỏng lớp phủ mới
Kiểu thứ nhất là ẩm không khí: hơi nước trong không khí ngưng lại trên các bề mặt lạnh hơn điểm sương. Đây chính là hiện tượng nồm ở miền Bắc, khi khối không khí nóng ẩm tràn về sau những ngày lạnh, gặp nền gạch và tường còn lạnh, khiến chúng đổ mồ hôi. Kiểu ẩm này đến rồi đi theo thời tiết; vật liệu chịu được nếu bề mặt không giữ nước lâu và có chỗ cho hơi thoát.
Kiểu thứ hai là ẩm từ kết cấu: hơi nước đi lên từ đất qua nền tầng trệt, ngấm ngang từ chân tường, hoặc nước rò từ ống, mái, nhà vệ sinh tầng trên. Kiểu này kéo dài liên tục, và khi bị một lớp kín như tấm nhựa ốp, giấy dán tường phủ nhựa, sàn nổi có màng kín đè lên, hơi nước bị nhốt lại, sinh mốc, mùi, và làm lớp vữa phía sau mục dần.
Phân biệt hai kiểu này quan trọng vì cách đối phó khác nhau. Ẩm không khí xử lý bằng chọn vật liệu chịu ẩm, đóng cửa và hút ẩm những ngày nồm, thông gió hợp lý. Ẩm từ kết cấu phải được chữa tận nguồn, việc của thợ chống thấm và điện nước; mọi lớp phủ mới đặt lên trước khi chữa đều chỉ là che giấu tạm thời.
Thử độ ẩm nền và tường bằng những thứ có sẵn
Không cần máy đo đắt tiền để có câu trả lời đủ dùng. Các phép thử dưới đây nên làm vào một ngày thời tiết bình thường, không mưa và không nồm, để kết quả phản ánh nền chứ không phải không khí.
- Thử tấm nilon: cắt một tấm nilon trong, cỡ chừng nửa mét mỗi cạnh, dán kín bốn mép xuống sàn hoặc lên tường bằng băng keo. Để nguyên một đến hai ngày. Mặt dưới tấm có hạt nước hoặc vùng sàn dưới tấm sẫm màu hơn xung quanh là có hơi ẩm đi lên từ nền hay đi ra từ tường.
- Quan sát sau khi lau: lau nhà xong, vùng nào khô chậm hơn hẳn chỗ khác, hoặc đọng cặn trắng khi khô, là vùng có ẩm từ dưới.
- Đọc chân tường: vệt ố chạy ngang ở độ cao gần như đều nhau, sơn phồng rộp sát chân tường, vữa bở tơi khi cạo là dấu hiệu ẩm ngấm lên từ chân tường.
- Ngửi góc phòng và mặt sau đồ đạc kê sát tường: mùi mốc ở mặt sau tủ là ẩm ở tường đó.
- Máy đo độ ẩm không khí nhỏ đặt trong phòng vài tuần giúp bạn biết phòng nào ẩm hơn phòng nào, và mùa nào cần chạy hút ẩm.
Phép thử nilon cho kết quả có hay không, không cho con số chính xác. Với sàn nổi có điều kiện bảo hành về độ ẩm nền, hỏi đơn vị bán xem họ có đo bằng máy chuyên dụng trước khi lắp không.
Khí hậu từng vùng ảnh hưởng tới lựa chọn thế nào
Đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên và các tỉnh lân cận có mùa nồm vào cuối đông, đầu xuân. Nền gạch, tường lạnh đổ mồ hôi nhiều ngày liền. Ưu tiên vật liệu không sợ nước ở tầng trệt, màng chống ẩm dưới mọi sàn nổi, và chọn mùa khô hanh để dán giấy, bả trần.
Duyên hải miền Trung. Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi và các tỉnh ven biển có mùa mưa bão tập trung, mưa tạt ngang, nhiều nơi bị ngập. Cửa ban công, cửa sổ hướng biển là chỗ nước vào nhà; tầng trệt vùng hay ngập không nên dùng vật liệu lõi gỗ ép. Hơi muối gần biển làm khung kim loại trần và nẹp sắt gỉ nhanh hơn.
Nam Bộ. TP.HCM, Cần Thơ, Vĩnh Long và các tỉnh đồng bằng có độ ẩm cao quanh năm, mùa mưa dài, nhiều khu bị triều cường. Không có nồm kiểu miền Bắc, nhưng tường, trần dễ mốc ở chỗ ít nắng, ít gió. Sàn tầng trệt từng bị nước tràn vào cần vật liệu chịu ngập hoặc giữ gạch.
Tây Nguyên và vùng núi cao. Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai có mùa khô rõ và mùa mưa ẩm, ngày đêm chênh nhiệt. Vật liệu gỗ và nhựa co giãn theo chênh nhiệt; khe giãn nở và khung chắc quan trọng hơn ở đây.
Vi khí hậu trong một ngôi nhà. Cùng một nhà, phòng hướng tây nóng và khô hơn, phòng giáp nhà tắm ẩm hơn, tầng trệt ẩm hơn tầng trên, phòng đóng kín ít người ở dễ mốc hơn phòng sinh hoạt. Vùng khí hậu chỉ là nền; từng phòng mới là nơi quyết định.
Bảng chọn vật liệu đè lên cũ theo vị trí
Bảng dưới gom những lựa chọn thường gặp. "Hợp" nghĩa là ít rủi ro nếu lắp đúng; "cân nhắc" là dùng được kèm điều kiện; "tránh" là rủi ro cao, nên chọn cách khác.
| Vị trí | Sàn | Tường | Trần |
|---|---|---|---|
| Tầng trệt nhà cũ, có dấu hiệu ẩm nền | Sàn nhựa lõi cứng có màng ẩm: cân nhắc. Gỗ công nghiệp: tránh. Giữ gạch, làm mới bề mặt: hợp | Sơn thoáng hơi: hợp. Giấy phủ nhựa, tấm dán keo: tránh | Thạch cao chịu ẩm: hợp nếu thông gió |
| Tầng trên, phòng khô, ít nước | Gỗ công nghiệp, sàn nhựa: hợp | Giấy dán tường, tấm ốp: hợp | Thạch cao thường: hợp |
| Phòng giáp nhà tắm, bếp | Sàn nhựa lõi cứng: hợp. Gỗ công nghiệp: cân nhắc | Tấm ốp chịu ẩm: cân nhắc. Giấy: tránh mặt tường nhận hơi | Tấm chịu ẩm, có hút mùi: hợp |
| Dải sau cửa ban công hắt mưa | Giữ gạch hoặc vật liệu chịu nước: hợp. Gỗ công nghiệp: tránh | Tấm ốp trong nhà: tránh sát cửa | Không ảnh hưởng nhiều |
| Tầng áp mái tôn | Sàn nổi có khe giãn nở đủ: hợp | Tấm nhựa sát mái nóng: cân nhắc | Thạch cao có lớp cách nhiệt: hợp |
| Vùng hay ngập | Giữ hoặc lát gạch: hợp. Sàn nổi các loại: tránh | Vật liệu không sợ nước ở phần dưới tường: hợp | Ít ảnh hưởng |
Bảng không thay cho việc kiểm tại chỗ. Một phòng tầng trên nhưng nằm dưới sân thượng thấm, hay một tầng trệt nhưng nền cao, khô ráo, có thể đi ngược với dòng tương ứng trong bảng.
Thứ tự làm trần, tường, sàn để lớp sau không phá lớp trước
Nhiều người làm sàn trước vì đó là phần muốn thấy đổi nhất, rồi sơn trần nhỏ giọt lên sàn mới, chà tường bụi bay khắp sàn. Thứ tự hợp lý là từ trên xuống dưới, từ việc bẩn đến việc sạch.
- Chữa nguồn ẩm, rò rỉ, điện trước tất cả. Đây là việc của thợ chuyên môn; mọi lớp làm mới đặt lên trước đều có thể phải tháo ra.
- Trần: vá nứt, thay tấm, bả, sơn trần. Bụi và sơn nhỏ giọt xuống tường, sàn cũ không sao.
- Tường: cạo, trét, sơn lót, sơn hoặc dán giấy, ốp tấm. Tháo len chân tường cũ ở bước này.
- Sàn: xử lý nền, lát sàn mới hoặc mài sàn cũ.
- Hoàn thiện: len chân tường, nẹp cửa, trám keo các khe, lắp lại mặt nạ ổ điện, đèn.
- Thông gió và để vật liệu ổn định vài ngày trước khi kê lại đồ nặng sát tường.
Nếu chỉ làm một hạng mục, vẫn giữ tinh thần này: che chắn kỹ những gì nằm bên dưới chỗ đang làm, và để việc tạo bụi xảy ra trước việc cần sạch.
Ba quyết định giúp lớp mới bền hơn ở mọi vùng
Cho hơi ẩm một lối thoát. Ở bức tường nghi ẩm, chọn lớp phủ thoáng hơi hoặc làm khung có khe thay vì dán kín. Ở sàn tầng trệt, màng chống ẩm đặt đúng chỗ, dưới sàn chứ không phải nhốt hơi ở giữa các lớp.
Chừa khe giãn nở ở mọi lớp nổi. Sàn nổi, tấm ốp, nẹp đều co giãn theo nhiệt và ẩm. Khe đủ rộng, được che bằng len và nẹp, là thứ phân biệt bề mặt phẳng lâu năm với bề mặt phồng sau mùa nóng.
Chọn thời điểm thi công. Ở miền Bắc, tránh tuần nồm cho các việc cần khô như bả, dán, sơn. Ở miền Nam và miền Trung, tránh đợt mưa dầm. Vật liệu được lắp trong điều kiện trung bình của năm sẽ ít co giãn quá mức về sau.
Giữ vật liệu dư cùng lô. Vài tấm sàn, một ít giấy, vài tấm ốp cất nơi khô giúp thay đúng màu khi một chỗ hỏng.
Ghi lại những gì đã làm. Loại vật liệu, ngày làm, ai làm, ảnh trước và sau. Khi có vấn đề, bạn biết ngay lớp nào ở dưới lớp nào, và trao đổi bảo hành rõ ràng.
Khi nào không nên đè lớp mới lên lớp cũ
Làm mới bằng cách phủ đè là lựa chọn tiết kiệm và ít bụi, nhưng có những trường hợp nó chỉ đẩy vấn đề ra sau và làm chi phí về sau lớn hơn. Dừng lại và gọi người có chuyên môn khi gặp một trong các tình huống sau.
- Nền hoặc tường đang ẩm do kết cấu và chưa được chữa: mọi lớp phủ kín sẽ nhốt ẩm lại.
- Gạch nền bộp thành mảng lớn, sàn lún, nghiêng: cần kiểm nền trước, có khi phải đục làm lại.
- Vết nứt tường, trần dài, rộng, xuyên qua nhiều mảng: có thể là chuyển vị kết cấu.
- Dây điện cũ chạy nổi hoặc âm đã xuống cấp ở chỗ sắp bị che: đi lại dây là việc của thợ điện và nên làm trước khi ốp, dán.
- Ống nước âm sắp bị che mà đã từng rò: che lại là mất lối kiểm tra.
- Chiều cao cửa, bậc cầu thang, ngưỡng chặn nước không còn chỗ cho thêm một lớp.
Những trường hợp này không có nghĩa là phải đập bỏ cả nhà; thường chỉ cần sửa đúng chỗ hỏng rồi mới làm mới bề mặt.
Câu hỏi thường gặp
Máy hút ẩm có thay được việc chọn vật liệu chịu ẩm không?
Máy hút ẩm giảm ẩm không khí trong phòng đóng kín, rất hữu ích những ngày nồm, nhưng không chặn được ẩm đi lên từ nền hay ngấm ngang qua tường. Nó là phần bổ trợ, không thay việc chọn đúng vật liệu và chữa nguồn ẩm.
Nhà chung cư tầng cao có cần lo độ ẩm khi làm mới không?
Ít hơn nhà sát đất, nhưng vẫn có. Căn hộ ít nắng, phòng giáp nhà tắm, phòng ngủ đóng kín cả ngày vẫn có thể ẩm và mốc. Mùa nồm ở miền Bắc, sàn và tường chung cư cũng đổ mồ hôi nếu mở cửa đón gió nồm.
Phép thử tấm nilon có làm hỏng sàn không?
Không. Băng keo giấy hoặc băng keo dán ít bám để lại vết rất nhẹ, lau là sạch. Tránh băng keo quá dính trên tường sơn yếu vì có thể lột sơn; thử trước ở góc khuất.
Có nên làm mới cả nhà một lần hay từng phòng?
Làm cả nhà một lần đỡ bụi bẩn lặp lại và dễ đồng bộ vật liệu. Làm từng phòng hợp với ngân sách nhỏ và nhà đang ở. Nếu làm từng phòng, vẫn lên kế hoạch tổng trước để chọn vật liệu, độ cao sàn và màu nẹp thống nhất.
Làm sao biết vết ẩm là do nồm hay do thấm?
Ẩm do nồm xuất hiện rộng trên nhiều bề mặt cùng lúc theo đợt thời tiết, rồi khô khi trời hanh. Ẩm do thấm tập trung ở một vùng, kéo dài cả khi trời khô, thường kèm vệt ố, sơn phồng, vữa bở ở cùng một chỗ.
Nhà thuê muốn làm mới có cần quan tâm độ ẩm không?
Có, vì vật liệu hỏng do ẩm là tiền bạn mất trước khi hết hợp đồng. Thử độ ẩm trước, chọn vật liệu tháo ra được, báo chủ nhà những chỗ thấm để họ sửa phần kết cấu, và thoả thuận việc hoàn trạng khi trả nhà.