Tấm nhựa ốp tường, dạng tấm phẳng giả đá, giả gỗ, hoặc dạng thanh sóng, là cách che một bức tường cũ loang lổ trong một hai ngày mà không phải cạo, bả, sơn lại. Bề mặt lau được, chịu va chạm nhẹ, hợp cho hành lang, chân cầu thang, phòng khách nhà phố. Câu hỏi cốt lõi khi lắp là dán keo trực tiếp hay làm khung xương: tường khô, phẳng thì dán keo; tường lồi lõm hoặc có dấu hiệu ẩm thì làm khung để tấm không chạm tường và có khe thoáng.
Bài này đi qua cách đánh giá tường, chọn phương án lắp, xử lý mép, góc, ổ điện, những điểm an toàn về cháy và điện, và các lỗi hay gặp như phồng tấm, hở mối, đọng ẩm phía sau.
Tấm nhựa ốp tường là gì và giới hạn của nó
Trên thị trường có nhiều tên gọi khác nhau cho cùng một nhóm vật liệu: tấm nhựa giả đá, tấm ốp vân gỗ, tấm ốp sóng, tấm ốp lam. Phần lớn là nhựa tổng hợp có thể trộn bột đá hoặc bột gỗ, mặt in vân và phủ lớp bảo vệ. Chúng nhẹ, cắt được bằng dao rọc hoặc cưa răng mịn, không cần vữa, và không ngấm nước qua mặt.
Giới hạn đầu tiên là giãn nở nhiệt: nhựa nở ra khi nóng, co lại khi lạnh, nhiều hơn tường gạch. Bức tường hướng tây nắng chiều, tường sát mái tôn, hay cạnh cửa kính đón nắng là nơi tấm dễ phồng nếu dán khít không chừa khe. Giới hạn thứ hai là không thoát hơi: tấm kín, nên hơi ẩm từ tường không thoát ra phía phòng được; dán trực tiếp lên tường ẩm là nhốt ẩm lại, sinh mốc và mùi phía sau.
Giới hạn thứ ba là cháy: nhựa cháy sinh khói đen và khí độc. Không nên ốp nhựa sát bếp lửa, sát bình nóng lạnh, quanh ống khói hoặc khu thoát hiểm duy nhất của nhà. Nếu toà nhà hay cơ sở kinh doanh có yêu cầu riêng về vật liệu hoàn thiện, cần hỏi trước. Hiểu ba giới hạn này, bạn sẽ biết bức tường nào nên ốp nhựa và bức nào không.
Dán keo trực tiếp hay làm khung xương
Hai cách lắp cho kết quả bề mặt giống nhau nhưng khác nhau về điều kiện tường, độ bền và việc tháo ra sau này.
| Tiêu chí | Dán keo trực tiếp | Làm khung xương rồi bắt tấm |
|---|---|---|
| Điều kiện tường | Khô, phẳng, chắc, không phấn | Chấp nhận tường lồi lõm vừa phải |
| Tường có dấu hiệu ẩm | Không nên | Được nếu có khe thoáng, nhưng vẫn phải chữa nguồn ẩm |
| Độ dày chiếm chỗ | Mỏng, chỉ thêm độ dày tấm | Dày hơn vì có khung |
| Tháo ra sau này | Khó, keo bứt theo lớp bả tường | Dễ hơn, tấm và khung tháo được |
| Đi dây mạng, dây loa phía sau | Không được | Có khoang phía sau, nhưng dây điện nguồn vẫn phải do thợ điện đi đúng cách |
| Công và vật liệu | Ít hơn | Thêm khung, vít, công bắt |
Với nhà thuê, khung xương bắt vít vào tường vẫn để lại lỗ khoan; dán keo thì để lại vết keo và có thể bứt sơn. Cả hai đều cần chủ nhà đồng ý trước và thoả thuận việc hoàn trạng khi trả nhà.
Chọn bức tường để ốp, chọn vân và tính số tấm
Không phải bức tường cũ nào cũng nên ốp. Những vị trí hợp nhất là nơi tường hay bị va chạm và bẩn: hành lang hẹp, chân cầu thang, mảng tường sau sofa hay sau đầu giường, quầy thu ngân của quán nhỏ. Những vị trí nên tránh là tường nắng gắt hướng tây không có mái che, tường sát bếp lửa, tường đang ẩm chưa chữa, và tường phải thường xuyên khoan treo đồ nặng, vì mỗi lỗ khoan trên tấm là một vết khó vá.
Về vân, tấm giả đá vân lớn đẹp ở mảng tường rộng nhưng lộ mối nối nếu xếp các tấm có cùng một vân lặp lại cạnh nhau; khi xếp thử, đảo các tấm sao cho vân trông nối tiếp tự nhiên, tránh hai tấm giống hệt đứng sát nhau. Tấm sóng, tấm lam tạo đường dọc làm tường trông cao hơn, nhưng rãnh sâu bám bụi nhiều hơn, cần lau thường xuyên ở nơi gần đường phố bụi.
Tính số tấm bằng cách vẽ mặt tường ra giấy theo tỷ lệ, xếp các tấm lên hình vẽ, đánh dấu chỗ cửa, ổ điện và nơi có mối nối. Cách này giúp bạn đặt mối nối tránh ngay giữa tầm mắt, tránh mẩu tấm quá hẹp ở góc, và biết trước số tấm cần cắt. Cộng thêm một phần dư cho hao hụt cắt và để dành vài tấm cùng lô thay thế về sau. Nẹp góc, nẹp kết thúc và keo cũng tính theo hình vẽ này, đỡ chạy đi mua lặt vặt nhiều lần giữa chừng.
Lắp bằng keo trên tường phẳng
Áp dụng cho tường đã kiểm: khô, phẳng, sơn còn bám chắc. Chuẩn bị keo dán chuyên dụng cho tấm ốp, súng bơm keo, thước thuỷ, dao rọc, thước thép, nẹp đi kèm.
- Lau sạch bụi và dầu mỡ, cạo chỗ sơn bong, chà lớp phấn. Keo bám vào lớp phấn sẽ bong cả mảng.
- Để tấm ốp trong phòng một ngày cho cùng nhiệt độ, xếp nằm phẳng tránh nắng.
- Kẻ đường chuẩn bằng thước thuỷ cho tấm đầu tiên, không dựa vào mép trần hay mép sàn vì chúng thường lệch.
- Bơm keo thành các đường dọc hoặc chấm đều theo hướng dẫn, không bơm kín mặt để keo có chỗ lan và hơi có chỗ thoát.
- Áp tấm vào tường, ấn đều từ giữa ra, kiểm thước thuỷ. Giữ tạm bằng băng keo hoặc nêm trong lúc keo đông kết.
- Chừa khe giãn nở nhỏ ở mép trần, mép sàn, góc tường theo hướng dẫn của nhà sản xuất; khe này sẽ được nẹp che.
- Ghép tấm tiếp theo vào hèm hoặc sát mép tấm trước, kiểm hoa văn vân đá nối tiếp tự nhiên.
- Lắp nẹp góc, nẹp kết thúc, trám keo đàn hồi ở khe tiếp giáp với khung cửa.
Cắt tấm bằng máy thì làm ở nơi thoáng, đeo kính và khẩu trang; bụi nhựa trộn bột đá mịn và dễ hít phải. Keo dán có dung môi thì mở cửa thông gió, không hút thuốc hay đun bếp gần đó, để trẻ nhỏ và thú cưng ở phòng khác.
Làm khung xương cho tường lồi lõm hoặc từng ẩm
Khung bằng gì. Thanh nhôm hoặc thép mạ dạng hộp, hoặc khung chuyên dụng đi kèm hệ tấm. Gỗ thường không hợp với tường từng ẩm vì dễ mục, mối.
Khoảng cách thanh khung. Theo hướng dẫn của hệ tấm. Khung thưa quá làm tấm võng, ấn tay thấy nhún, lâu ngày mối ghép hở.
Cân phẳng khung, không cân phẳng tường. Dùng miếng chêm sau thanh khung ở chỗ tường lõm để mặt khung thẳng. Mặt tấm sẽ phẳng theo khung.
Chừa khe thoáng. Khoảng hở giữa tấm và tường giúp hơi ẩm có đường thoát, nhất là khi để hở một chút ở mép dưới hoặc mép trên theo cách nhà sản xuất cho phép.
Khoan bắt khung: dò đường điện, đường nước trước. Dây điện thường đi âm từ ổ cắm, công tắc theo phương thẳng đứng hoặc nằm ngang. Tránh khoan thẳng trên, dưới các vị trí này; dùng máy dò nếu có. Ống nước nóng lạnh âm tường quanh nhà tắm, bếp cũng là chỗ dễ khoan trúng.
Khung không thay được việc chữa ẩm. Khe thoáng chỉ giúp tấm không bị ẩm trực tiếp. Tường vẫn ẩm thì vẫn mục lớp vữa, vẫn mốc. Chữa nguồn ẩm trước rồi mới che.
Ổ điện, công tắc, góc cạnh và chỗ tiếp giáp
Đây là những chỗ quyết định bức tường ốp trông chuyên nghiệp hay vá víu, và cũng là chỗ có rủi ro an toàn.
- Ổ cắm, công tắc: ngắt cầu dao, tháo mặt nạ, đo vị trí, khoét tấm vừa khít đế, lắp lại mặt nạ đè lên mép tấm. Tấm dày làm mặt nạ không còn ôm sát hộp điện thì cần hộp nâng hoặc vít dài hơn; nếu phải dời, nâng hay nối dài dây, đó là việc của thợ điện.
- Đèn tường, quạt treo: tháo ra trước khi ốp, cắt lỗ, lắp lại. Không để dây điện kẹp giữa tấm và tường.
- Góc ngoài: dùng nẹp góc che mép cắt, vừa đẹp vừa chống sứt khi va đập.
- Góc trong: chừa khe nhỏ, dùng nẹp góc trong hoặc trám keo đàn hồi trùng màu.
- Mép trên chạm trần: chừa khe, nẹp kết thúc hoặc phào. Không ép tấm sát trần.
- Mép dưới chạm sàn: chừa khe, dùng len chân tường che. Sàn hay lau ướt thì nâng tấm lên một chút để nước không đọng ở mép.
- Quanh khung cửa, khung cửa sổ: cắt sát, nẹp hoặc trám keo đàn hồi, không ép tấm vào khung gỗ vì khung cũng co giãn.
Lỗi hay gặp sau khi ốp và nguyên nhân
Khi tấm ốp có vấn đề, nguyên nhân hầu như luôn nằm ở tường phía sau hoặc ở khe giãn nở.
| Hiện tượng | Nguyên nhân | Cách xử lý |
|---|---|---|
| Tấm phồng giữa, cong vênh | Thiếu khe giãn nở, tường nắng nóng | Tháo nẹp, cắt nới khe, cân nhắc làm khung |
| Hở mối nối giữa hai tấm | Keo không đủ, tấm co khi lạnh | Ép lại, bổ sung keo đúng loại, kiểm khe |
| Mùi mốc, ố vàng mép tấm | Tường ẩm bị nhốt sau tấm | Tháo, tìm nguồn ẩm, để khô, làm khung thoáng |
| Tấm bong cả mảng kèm lớp sơn | Dán lên lớp sơn phấn hoá | Cạo lớp yếu, sơn lót, dán lại |
| Mặt nạ ổ cắm không ôm sát | Tấm làm tăng độ dày | Dùng hộp nâng, nhờ thợ điện nếu phải chỉnh dây |
Nếu bạn thấy mùi mốc trong vài tuần đầu sau khi ốp, đừng chờ. Tháo một tấm ở chỗ nghi ngờ để xem phía sau; càng để lâu, mảng mốc càng lan và càng khó xử lý.
Câu hỏi thường gặp
Có thể ốp tấm nhựa trong nhà tắm không?
Một số loại tấm được làm cho khu ẩm, nhưng nhà tắm có nước bắn trực tiếp và hơi nước liên tục, đòi hỏi trám kín mép và khung chống gỉ rất kỹ. Với khu có nước bắn thẳng như vách tắm, các cách làm mới chuyên cho nhà tắm thường hợp hơn.
Tấm ốp nhựa có chịu được va đập của xe đạp, xe đẩy không?
Chịu được va chạm nhẹ hằng ngày, nhưng va mạnh bằng vật cứng có thể làm móp hoặc nứt, nhất là tấm dán trên tường lõm có khoảng rỗng phía sau. Ở lối dắt xe, nên làm khung chắc và dùng nẹp góc bảo vệ.
Có ốp tấm nhựa lên tường ngoài trời được không?
Đa số tấm ốp trong nhà không chịu được nắng trực tiếp và mưa lâu dài, dễ bạc màu, phồng và giòn. Chỉ dùng loại được nhà sản xuất ghi rõ là dùng ngoài trời, và vẫn phải tính khe giãn nở lớn hơn.
Ốp tấm nhựa có giúp chống nóng cho tường hướng tây không?
Tấm mỏng dán sát tường gần như không cách nhiệt đáng kể, và chính nó dễ phồng khi tường nóng. Làm khung có khoảng không khí phía sau giảm truyền nhiệt một phần, nhưng đó không phải giải pháp chống nóng chính.
Muốn tháo tấm ốp ra sau vài năm thì tường phía sau có hỏng không?
Tấm bắt trên khung thì tháo khá gọn, chỉ còn lỗ khoan cần trét. Tấm dán keo thường bứt theo một phần lớp bả, phải trét và sơn lại. Đây là lý do nên cân nhắc khung nếu bạn biết mình sẽ thay đổi.
Tấm ốp có cần vệ sinh đặc biệt không?
Lau bằng khăn ẩm và chất tẩy rửa nhẹ là đủ. Tránh dung môi mạnh, miếng cọ cứng làm mờ lớp phủ. Kiểm định kỳ các mép nẹp và chỗ tiếp giáp ổ điện, khung cửa xem có hở không.